Saturday, November 28, 2015

Sự Lạc Quan và Tích Cực của Người Phật Tử



Sự Lạc Quan và Tích Cực của Người Phật Tử

Thánh Tri

Thời gian cứ mãi trôi như nước mùa lũ kéo theo những dòng đời về phương trời vô định. Trong kiếp sống nhân sinh ai cũng phải trãi qua những thăng trầm của cuộc sống để kinh nghiệm được những bài học vô giá của trường đời. Những bài học ngọt ngào dễ chịu thì làm cho lòng ta ấm áp, hưng khởi, và tràng đầy sự sống. Những bài học nào chua sót đắng cay thì làm cho ta khổ đau, lệ trào, và mất đi ý chí để sống. Song, dù ta có học được bài học dễ chịu hay khó chịu từ trường đời, thì đó cũng là những bài học nền tảng vững chắc làm giàu kinh nghiệm để ta có thể bước đi thong dong và vững chãi trên cuộc đời.    

Đôi khi thất vọng và buồn phiền về những sự thật tái tê mà dòng đời đã đưa đẩy, đến nỏi cuộc sống trở nên chán trường và vô nghĩa. Nhưng thay vì bi quan về quá khứ chẳng thể thay đổi được và chẳng có lợi ích gì, thì sao không cởi mở lòng và nhìn xa để lạc quan hơn trong hiện tại và tương lai? Đức Phật cũng từng dạy con người phải sống lạc quan và tích cực chứ đừng bi quan và tiêu tực qua câu nói:

“Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.”

Tuyệt thay lời nói ấy! Đừng truy tìm quá khứ vì quá khứ đã đoạn tận, cũng đừng ước vọng về tương lai vì nó chưa đến. Có tìm về quá khứ hay ước vọng về tương lai cũng chỉ là những tự ngôn tự ngữ lăng xăng thuộc vọng tâm sinh diệt, chỉ phí sức và làm nhọc nhằn thêm thôi. Nếu đem cái tâm quán niệm sở quán (hay chánh niệm tỉnh giác) trong hiện tại thì cũng chỉ là tạm lấy đá đè cỏ, chế ngự tâm ý và được an định nhứt thời mà thôi. Vì sao vậy? Vì năng sở chưa vong, người kiểm duyệt tâm (năng quán) và kẻ bị kiểm duyệt (sở quán) cũng là một tâm. Hơn nữa, tâm vô hình, vô tướng, vô sở y thì làm sao nắm bắc được? Do vậy kinh Kim Cang nói tâm ba đời bất khả đắc. Đã không thấy và nắm bắc được thì làm sao quán niệm? Nếu có quán niệm cũng chẳng qua là quán niệm về những vọng tưởng sinh diệt của đối tượng tâm ý mà thôi. Do vậy đem tâm năng quán để quán tâm sở quán cũng chưa phải gọi là “tuệ quán chính ở đây” bởi còn năng sở. Trí Tuệ Bản Nhiên là trí tuệ vượt ngoài tương đối, vậy trí tuệ bản nhiên chỉ có thể có được khi hành giả tẩy sạch căn trần hay năng sở.

Nếu có thể quét sạch mọi tự ngôn tự ngữ thuộc vọng tâm (cất hết sở niệm hay sở quán) thì mới được tâm không động không rung chuyển. Tâm không động không rung chuyển ấy mới là bản tính tịch nhiên vắng lặng chiếu soi trong cõi lòng ngay hiện tại vậy. Người làm được như vậy mới gọi là Nhứt Dạ Hiền Giả và là bậc An Tịnh Trầm Lặng tuyệt đối. Việc cất hết sở niệm hay sở quán là một việc làm của sự nhiệt tâm, ngày đêm không mệt mỏi. Bơi ngược dòng nước đã khó, thì đi ngược dòng đời (cất hết sở niệm) lại càng khó hơn. Do vậy đòi hỏi hành giả phải miên mật công phu không gián đoạn, mới có ngày triệt ngộ. Đây chính là chỗ tích cực của Phật giáo.

Muốn theo đức Phật tu giải thoát giác ngộ thì chúng ta phải lạc quan và tích cực mới ngược dòng đời vào chốn vô sanh giải thoát. Còn nếu ta bi quan và tiêu cực thì mặt tình cho dòng đời cuốn trôi, lên đên trôi dạc trong vòng samsara về phương trời vô định, không tự chủ được.

Nếu không thể theo Phật tu giác ngộ giải thoát vì gia duyên còn bận biệu thì chỉ cần theo lời Phật dạy về giáo lý Duyên Sinh và sống trọn đời đúng với Nhân Quả. Như Phật từng nói, “Đừng làm các điều ác, vân làm các điều lành, giữ tâm ý trong sạch.” Một điều thiện nhỏ cũng chớ bỏ qua, một điều ác nhỏ cũng cần phải tránh. Những việc bỏ ác làm lành giữ tâm trong sạch cũng là những hành động vô cùng tích cực trong cuộc sống hầu giúp cho cuộc đời thêm tươi đẹp và cuộc sống trở nên sinh động và lạc quan hơn.

Sống đúng với Nhân Quả là cách sống thực tế và trung trực nhứt. Nó sẽ mang lại những điều tốt đẹp, bình an, và lợi ích cho mình và những người chung quanh mình trong hiện tại và mai hậu. Thế nào là sống đúng với Nhân Quả? Như trong “Bài Học Ngàn Vàng” có dạy, trước khi làm một điều gì, chúng ta cũng phải nên suy xét cái hậu quả của nó trước rồi mới làm. Nếu hậu quả mang lại kết quả không tốt cho mình và người thì đừng nên làm. Thí dụ, trước khi chê bai hay nói xấu người khác, mình cần phải suy nghĩ xem cái hậu quả của nó là gì, có tốt cho mình và người không? Sau khi suy nghĩ kỹ càng thì vỡ lẽ rằng chê bai hay nói xấu người khác không có mang lại cho người bị nói xấu lợi ích gì mà còn thêm khổ đau. Còn người nghe mình nói xấu người khác cũng không có lợi ích gì vì phải nhận những lời nói bất thiện từ mình, khiến họ khổ tâm và bất an thêm. Còn đối với chính mình thì cũng không có lợi ích gì vì bị lương tâm ray rứt do biết rõ mình đã nói xấu người khác là một việc không tốt, còn làm mình bực tức thêm. Thế nên mới biết người phải chịu sự bực tức đau khổ không phải là ai khác mà là chính mình. Thế thì mình là người phải chịu tổn thương và đau khổ nhứt khi mình nói xấu người khác. Việc tai hại như vậy thì tại sao mình phải làm? Suy xét kỹ càng như vậy rồi thì buông xuống những vọng tưởng khởi lên trong tâm mình bằng cách nhiếp tâm chánh niệm, hoặc hít thở ra vào vài lần, trong khi hít thở ra vào cần nên nhiếp tâm vào hơi thở để định tâm lại, hoặc quán vô thường, vô ngã, rằng những vọng tâm suy nghĩ lăng xăng nầy không phải là mình, của mình, và tự ngã của mình, vì chúng luôn chuyển đổi sanh diệt vô thường. Và rồi lại nhớ lời Phật dạy: “Tâm đứng đầu các pháp, tâm làm chủ tạo tác, ý nghĩ ác, lời nói ác, hành động ác, thì quả khổ đau sẽ đến với mình như bánh xe theo chân con bò. Tâm đứng đầu các pháp, tâm làm chủ tạo tác, ý nghĩ thiện, lời nói thiện, hành động thiện, thì quả an vui sẽ đến với mình như bóng với hình.”  Nhớ nghĩ lời Phật dạy rồi thì dừng ngay những ý nghĩ ác, lời nói ác và hành động ác, tức sẽ không chịu quả báo khổ đau về sau. Nghĩ như vậy thì tự nhiên lòng được an lành, bình yên, và thảnh thơi, bởi vì biết mình vừa dừng được ý ác, tránh lời nói ác, và hành động ác cho nên không phải chịu quả báo khổ đau trong hiện tại và về sau. Đó là lý do vì sao sống đúng với Nhân Quả giúp mình được sống một đời sống tốt đẹp, bình an, và vui vẻ, hầu giúp cho đời sống mình trở nên lạc quan và tích cực hơn. Hơn thế nữa, khi mình sống đúng với Nhân Quả được bình an vui vẻ trong hiện tại, thì người chung quanh mình, xã hội mình, đất nước mình, và thế giới mình cũng được lây lang cái bình an và vui vẻ, bớt đi cái khổ đau buồn phiền. Sống đúng với Nhân Quả trong đời sống hiện tại còn giúp mình bồi đắp căn bản Phật học và làm nền tảng vững chắc trên con đường tu giác ngộ giải thoát cho cuộc đời vị lai của mình. Bởi vì hiện tại sống đúng nhân quả, nên đời sau được gặt hái những điều vui và giảm bớt những chướng ngại trên đường tu giác ngộ giải thoát của chính mình. Do vậy chư tổ có lời dạy: “Thật tế lý địa bất nhiễm nhất trần, vạn hạnh môn trung bất xã nhất pháp.” (trên thực tế về lý tánh thì bản tánh không bị dính một bụi trần nào, nhưng trong tất cả việc làm cũng không bỏ một việc nào). Thế nên biết dù một việc thiện nhỏ nhoi cũng chớ có bỏ qua vì nó cũng có thể giúp ta thăng tiến trên con đường giác ngộ, và một việc ác nhỏ nhoi cũng chớ có làm bởi vì nó cũng có thể chướng ngại ta trên con đường Bồ Đề trong hiện tại và vị lai.

Đầu Thu, 2015

Monday, November 16, 2015

Quan Niệm Về Thiền và Tịnh của Thiền Sư Bạch Ẩn

QUAN NIỆM VỀ THIỀN VÀ TỊNH CỦA THIỀN SƯ BẠCH ẨN
(Trích đoạn từ “Thiên chân chánh” – Bạch Ẩn Huệ Hạc)
Ngọc Bảo dịch

Hãy nhìn xem các vị Tổ sư thiền xưa kia có phong cách phi thường như thế nào. Ngày nay những hành giả tu thiền có bao nhiêu người giống được như vậy? Hầu hết chưa thể qua được hàng rào công án do những bậc thầy kiệt xuất này lập ra, nên họ không thể thẩm thấu được cái tinh túy chân lý hàm chứa trong những công án này, và ngọn lửa bức xúc vẫn cháy bừng trong tâm họ.

Họ sẽ không có được một giây phút nào an bình trong cuộc đời. Họ giống như những người bị bệnh kinh niên hành hạ từng hồi mỗi ngày. Họ cố tọa thiền trong năm bảy ngày rồi bỏ cuộc và bắt đầu đi ra lễ lạy trước tượng Phật. Năm ngày sau, họ lại bỏ cuộc rồi bắt đầu tụng kinh. Họ tiếp tục được năm bảy ngày rồi chuyển qua ăn uống kham khổ, ăn chỉ một bữa trong ngày. Họ giống như người bị bệnh nặng phải nằm ở trên giường, không ngủ được muốn ngồi lên, nhưng rồi thấy cũng không làm được đều đó. Họ mò mẫm đi như những con lừa mù. Không biết bước chân mình sẽ đi đến đâu. Và tất cả chỉ vì lúc đầu giải đãi. Nên họ không thể nào đạt được sự thấu phá đưa đến niềm vui ào ạt bao la của chứng ngộ.

Thường tình thì một người tu thiền sẽ bỏ ra khoảng ba, năm, có khi bảy năm để tực tập tọa thiền. Nhưng vì người ấy không để hết tâm sức vào đó, nên họ không đạt được sự nhất quán, và cách tu của họ không đem lại kết quả gì. Năm tháng trôi qua nhưng họ không kinh nghiệm được niềm vui niết bàn, và nghiệp báo luôn chờ đợi họ nếu họ ngưng lại hay lùi bước. Lúc đó họ quay qua niệm hồng danh Phật A Di Đà và hết sức trì niệm, hăng hái ước nguyện sẽ được vảng sanh về cõi tịnh độ, bỏ đi chí nguyện trước đây : Muốn thấy cho được chân lý trên con đường đạo. Ở Trung Quốc, những người thuộc giới này xuất hiện rất nhiều trong triều đại nhà Tống, còn tiếp tục cho đến đời nhà Minh, và cho đến ngày nay. Hầu hết bọn họ là các nhà tu thiền thuộc loại tầm thường, hèn yếu, không có chút nhuệ khí.

Để lấp liếm và che giấu mặc cảm thất bại, họ vội vàng đưa ra những thí dụ về sự tái sinh nơi tịnh độ của các bậc thiền sư như Chieh của núi Wu-tse, Hsin-ju Che, và I của Tuan-ya, để đưa ra kết luận rằng : thực tập tọa thiền không có ích lợi gì. Có điều dường như họ không biết là những người này thực ra đã khởi tu pháp môn niệm Phật ngay từ lúc đầu. Than ôi! Trong sự hăng say muốn tìm sự hỗ trợ cho những quan niệm đầy định kiến và tầm thường của mình, họ đã đem trường hợp của những kẻ phàm phu không đủ nghị lực tinh tấn kiên trì trên đường tu thiền ví với những bậc thánh tăng đã khế hội được pháp vi diệu sống thực được truyền thừa, khiến cho giá trị của chư vị bị giảm đi. Quả là họ đã hủy báng tinh túy huyền vi không thể nghĩ bàn đã được các vị thánh tăng truyền trao cho nhau từ đời nọ qua đời kia. Họ đã phạm vào những lỗi lầm nghiêm trọng hơn cả năm tội ngũ nghịch. Không có cách gì khiến họ biết tỉnh ra để mà sám hối.

Trên căn bản, không có tịnh độ nào hiện hữu ngoài thiền. Không có tâm nào Phật nào tách biệt ngoài thiền. Lục tổ Huệ Năng đã thị hiện xuất thế từ một quá trình đạo sư của tám mươi kiếp liên tục trước đó. Thiền sư nam Nhạc là hiện thân của tất cả ba cõi quá khứ hiện tại và vị lai. Họ là những đại dương rộng lớn của sự an định vô biên, là những bầu trời cao mênh mông trong sáng không còn chút dấu vế, không còn gì để tái sinh trở lại kiếp người, vào nơi cực lạc hay nơi cõi trời, mà cũng là vô sanh. Cõi thiên đàng đầy niềm vui hay cõi địa ngục khủng khiếp, cõi giới bất tịnh hay một cõi tịnh độ đều là những mặt của viên ngọc Như Ý vận chuyển tự do và dễ dàng trên một cái khay. Nếu có một ý niệm nắm bắt khởi lên, dù là nhỏ nhặt nhất, ta sẽ như một con người ngông cuồng muốn bắt một con rồng mà cố múc nước từ sông lên.

Nếu sơ Tổ của thiền tông là Bồ Đề Đạt Ma cho rằng, cứu cánh tối thượng của Phật pháp chỉ là ước nguyện vãng sanh về cõi tịnh độ, thì ngài chỉ cần gởi một lá thư sang Trung Hoa với đôi dòng thế này “Hãy cố đạt được vãng sanh nơi Tịnh độ bằng cách nhiếp tâm niệm Phật không ngừng”, đâu có gì khiến ngài phải vượt qua hàng muôn dặm hải lý đại đương sống gió hiểm nguy, chịu bao gian lao cực khổ, để trao truyền pháp KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT?

Những ai nghĩ rằng pháp môn Tịnh độ xa lìa với thiền, có biết trong kinh Quán A Di Đà có một đoạn nói về thân Phật A Di Đà cao bằng “10 ức dặm x với số lượng nhiều bằng số cát trong 60 sông hằng hợp lại”? Họ phải quán tưởng, nghiền ngẫm cho kỹ về đoạn này. Nếu cách quán thân Phật không phải là cách để đạt được sự giác ngộ vô thượng, nếu muốn cho tâm giác ngộ mà không quán chiếu chính bản tánh của mình thì đó là cách gì?

Một vị Tổ Tịnh độ là Eshin Sozu đã nói “Nếu có niềm tin lớn mạnh, bạn sẽ thấy được Phật trước mắt”. Tu thiền là làm cho bạn khai mở được tâm mình, để thấy vị Phật xưa đáng kính ngưỡng ở ngay trước mắt mình, thật hiển nhiển và rõ ràng. Nếu bạn muốn tìm vị Phật đó ở những chốn nào ngoài mình, hãy gia nhập vào hàng ngũ ác ma đang cố tìm cách hủy hoại Phật pháp đi! Trong kinh Kim Cang, Đức Phật đã nói:

Nếu lấy sắc cầu ta
Lấy âm thanh cầu ta
Kẻ ấy hành đạo tà
Không thấy được Như Lai

Tất cả những vị Phật, đều có ba thân : Pháp thân, luôn thường trú và hiển hiện khắp mọi nơi. Báo thân, sự thanh tịnh hoàn hảo. Hóa thân, như đức Thích Ca Mâu Ni được mô tả như sự “kiên trì nhẫn nhục trong an định”. Trong chúng sanh hữu tình, ba thân này được hiển hiện như là định, tuệ và sự sự vô ngại. Định ứng với pháp thân. Tuệ ứng với báo thân. Sự sự vô ngại ứng với hóa thân.

Tổ Bồ Đề Đạt Ma nói “Khi chúng sanh tạo những việc lành thì hóa thân hiện. Khi tu trí tuệ thì báo thân hiện. Khi giác ngộ pháp vô vi thì pháp thân hiện. Bay khắp mười phương tùy nghi hóa độ chúng sanh là hóa thân vậy. Dứt trừ nghi hoặc thành đạo nơi núi Tuyết là báo thân vậy. Không nói, không làm, không sở đắc, yên lặng thường trụ là pháp thân vậy. Xét cho cùng một Phật còn không có, huống là ba?

Nói đến ba thân Phật, là dựa vào căn cơ con người có thượng, trung, hạ căn. Kẻ hạ căn chỉ vọng cầu lấy phước, chỉ mong thấy được hóa thân Phật. Kẻ Trung căn vọng cầu dứt đoạn phiền não, chỉ mong thấy được báo thân Phật. Người thượng căn vọng chứng bồ đề, mong thấy pháp thân Phật. Người thượng thượng trí, bên trong sáng tỏ vắng lặng. Tâm sáng tức là Phật. Không đợi tâm mà Phật quả vẫn thành. Mới biết ba thân cũng như mọi pháp khác đều không thể nắm bắt, cũng không thể nói ra. Đó tức là tâm giải thoát, tự thành đại đạo. Kinh nói “Phật không thuyết pháp, không độ chúng sinh và cũng chẳng chứng bồ đề” là ý nghĩa đó vậy”.

Tổ Hoàng Bá nói “Pháp do pháp thân giảng, không thể lấy ngôn ngữ, âm thanh, hình tướng, văn tự mà cầu. Pháp này không thuyết giảng, không chứng đắc, tự tính rỗng không thông suốt mà thôi. Cho nên trong kinh Kim Cang nói ‘Không pháp nào có thể giảng được. Pháp giảng mà không giảng đó mới chính thực là giảng pháp’. Báo thân hóa thân đều từ cơ duyên cảm ứng mà hiển hiện. Cho nên các pháp do hóa thân giảng cũng tùy sự việc, ứng căn cơ mà dùng để tiếp dẫn giáo hóa. Tất cả pháp này đều không phải là pháp chân thật. Cho nên nói ‘báo và hóa thân không phải là Phật thực, cũng không phải là thân thuyết pháp”.

Bạn phải nhận thức rằng, tuy Phật ứng hiện vào vô số chúng sanh đủ loại, đủ cỡ, lớn hay nhỏ, nhưng bao giờ cũng thể hiện qua ba thân Phật này thôi. Kinh Kim Quang Pháp Vương nói “Như thế, đạo vô thượng được thành tựu đều có ba thân Phật. Trong ba thân này, báo và hóa chỉ là những tên gọi tạm thời. Chỉ có pháp thân mới là chân thật, thường hằng và bất biến, là cội nguồn căn bản của hai thân kia”.

Như vậy, có ai nói cho tôi biết cái thân khổng lồ mà kinh Quán A Di Đà đã nói “10 ức dặm x với số lượng nhiều bằng số cát trong 60 sông hằng hợp lại” đó là hóa thân, báo thân hay pháp thân?

Chúng ta đã nghe, báo thân và hóa thân là do Phật độ chúng sanh bằng cách tùy phương tiện mà ứng hiện. Nhưng một thế giới phải lớn bằng chừng nào mới chứa được một vị Phật vĩ đại như thế? Bạn có tưởng tượng ra được tầm cỡ của chúng sanh nào được vị Phật ấy ứng hiện vào không? Và cũng đừng nói rằng những chúng sinh trong cõi tịnh độ lớn lao như vậy cũng phải to lớn như vậy, Phật thị hiện trong cõi giới ấy cũng to lớn như vậy. Nếu điều này có thực, phải chăng những vị Bồ tát, những người đi cầu đạo và tất cả những chúng sanh khác sống trong cõi giới ấy cũng đều phải có một tầm cỡ lớn như là “10 ức dặm x với số lượng nhiều bằng số cát trong 60 sông hằng hợp lại”.

Một con sông lớn như sông Hằng có chiều ngang tới 40 dặm (Nhật). Những hạt cát nhỏ và mịn như những tinh thể vi tế nhất. Dù cho quỉ thần, cũng không thể đếm được số cát trong sông Hằng, hay là nửa sông Hằng đi nữa. Dù có mắt Phật thông suốt hết tất cả cũng không thể đếm được. Thế thì trong bản chất, đó là những con số không thể định lượng. Đó là sự tính toán vượt ra ngoài tính toán. Tuy nhiên trong đó hàm chứa một chân lý sâu sắc khó nắm bắt nhất, hơn tất cả các điều nói trong kinh sách khác của Phật. Đó chính là cốt tủy kim quang của Vô Lượng Thọ Phật vậy.

Nếu có nói được một chút gì về vấn đề này, tôi sẽ nói rằng cát trong 60 mươi sông Hằng là ngụ ý nói về sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, chính là sáu trần, đối tượng của sáu căn trong chúng ta. Không có một pháp nào trên thế gian biến thiên này lại không có sáu trần ấy. Khi bạn giác ngộ được rằng tất cả các pháp đều được nhận biết là sáu trần tự hiện tướng như thế, bạn sẽ thấy được thân kim sắc của Vô Lượng Thọ Phật một cách toàn diện. Bạn sẽ vượt qua được biển khổ luân hồi ngay tại chỗ đang đứng và thể nhập được sự giác ngộ toàn hảo vô lượng.

Lúc đó, khắp nơi nơi, từ đông sang tây, đều là cõi Liên hoa tịnh độ. Tất cả pháp giới trong vũ trụ này, trong khắp mọi phương hướng, không chừa một chỗ nhỏ nào, đều ở trong sự an định vô biên như báo thân Phật nguyên thủy. Sự an định đó thẩm thấu tới tất cả pháp giới chúng sanh, sẽ xóa mờ đi mọi sự phân biệt, và mãi mãi hằng thường như thế, không có đổi thay.

Kinh Quán A Di Đà còn nói rằng những người nào đọc tụng các kinh Đại thừa là ở trong hàng cao nhất của những người thượng căn đã được vảng sanh vào cõi tịnh độ của Vô Lượng Thọ Phật A Di Đà. Cái gì là kinh Đại thừa? Đó không phải là bản kinh bằng giấy vàng cuộn lại với lõi cầm màu đỏ. Chắc chắn rằng, không có chút nghi ngờ nào, kinh Đại thừa chính là nói đến tâm Phật nguyên thủy đã có sẵn ngay trong nhà ngũ uẩn này của chúng ta.

Như vậy, dựa trên căn bản nào mà những kẻ ngông cuồng nói tu thiền là không có lợi ích gì ?

Bạch Ẩn Huệ Hạc
Ngọc Bảo dịch
(Thiền Viện Thường Chiếu)
http://thuvienhoasen.org/images/file/Ngkri51G0QgQAOIL/thiensubachan.pdf
  

Saturday, November 14, 2015

Thiền



THIỀN
ZEN

Tỳ Kheo Thích Minh Điền Soạn
Thánh Tri dịch từ Việt sang Anh

Thiền không phải là một tôn giáo, một học thuyết hay một quan niệm thuộc về tri thức. Thiền cũng không phải là nền triết học với những hệ thống luận lý mang tính chủ quan của vỏ não; cũng không phải là ngành khoa học với những cơ cấu lập trình và máy móc phức tạp.

Thiền chỉ là một danh từ tạm dùng để chỉ một tâm thái thường trực, bất biến và phi thời – không. Bản chất của thiền nằm ngoài mọi cặp phạm trù mâu thuẩn xung đột thuộc duy lý chủ quan bởi suy tưởng lý luận. Chúng ta có thể đạt đến trạng thái này bằng thể nghiệm tâm linh với bản chứng tự tâm, chứ không qua suy luận của bộ óc. Đây chính là công việc của đạo học, chứ không ở nơi triết học. Danh từ Thiền cũng chỉ là tiếng rỗng tuếch, không liên hệ gì đến tâm thái tịch nhiên vắng lặng, an tĩnh và tự do tuyệt đối của tâm hồn. Tâm thái này không hình thù, không tên gọi, nên từ trong bản chất nó xa lìa tướng danh tự, tướng nói năng, tướng tâm duyên. Nó bình đẳng tuyệt đối với mọi pháp.

Vì vậy cho nên, chúng ta hãy nghe lại cõi lòng như nó đang là, mà quên hết những tự ngôn tự ngữ của dòng thức, quên hết mọi tìm tòi học hỏi của vọng tâm.

Y hệt như ngón tay dùng để chỉ mặt trăng, những lời nói thuộc kinh điển chỉ được tạm dùng để diễn tả cái lẽ thực bất biến nơi tự tâm, nên hãy quên nó sau khi cảm nhận thực tại.

Đừng bao giờ để kinh điển, giáo điều đánh lừa mình với những văn phong hoa mỹ, hay trở thành nhà tù giam hãm tâm thái tự do tĩnh lặng tuyệt đối của mình.

Tham thiền đòi hỏi có một tự giác cao độ và thường trực, y hệt như mèo rình chuột khi nào bắt được chuột mới thôi. Và mỗi khi tỏ ngộ tâm thái tĩnh lặng phi thời – không thì chính sự tỏ ngộ ấy sẽ soi sáng, hướng dẫn chúng ta trong mọi hành vi của sự sống. Chính sự tỏ ngộ ấy mà chúng ta trực nhận ra rằng, cái tâm thái tĩnh lặng và an nghỉ tuyệt đối ấy chính là niết bàn,  cũng chính là thiền. Vì vậy cho nên, thiền không có bắt đầu và kết thúc.

Ngược lại, khi chưa tỏ ngộ, chưa nhận ra bản tính tịch nhiên vắng lặng chiếu soi nơi mình, thì chưa thật sự tham thiền, chưa biết thiền là gì và vẫn còn đứng ngoài ngưỡng cửa thiền. Mọi hành vi tạo tác của chúng ta dầu có tinh vi khôn khéo đến đâu, thì cũng chỉ là sự cân nhắc tính toán dọ dẫm của ý thức mà thôi, nên không thể tránh khỏi vụng về dại dột lầm lẫn và đưa đến Xung đột. Khi tỏ ngộ được tâm thái tự do, an nghỉ tuyệt đối của tự tâm, thì khi ấy cuộc sống mới tràn đầy ý nghĩa, và mọi động thái luôn được soi sáng. Một tầm nhìn mới về nhân sinh và vũ trụ được mở ra; thấy cõi đời không là biển khổ nữa, mà là một bức họa lung linh mầu nhiệm, một bản hợp tấu tuyệt vời. Chúng ta không nhìn đời bằng ánh mắt hoang vu, mà bằng đôi mắt bình đẳng và tràn đầy yêu thương chân thật.

Mỗi khi cánh cửa thiền rộng mở thì bậc thầy lui bước. Lúc này hành giả tự mình cất bước độc hành trên lộ trình giải thoát, mà không còn ai can thiệp vào nữa. Tuy nhiên vẫn còn có những cuộc chiến đấu, nhưng dù phải chiến đấu mình vẫn được soi sáng bởi tĩnh thức nội tại và không bao giờ bị lạc hướng bởi đã có một lần kinh nghiệm tỏ ngộ trạng thái thanh tịnh bản nhiên của tự tâm.

Khi lọt vào cửa thiền thì chúng ta sẽ trở thành con người mới với nhãn quan mới, tức sống đồng nhất với chân lý. Sự tỏ ngộ không nhất thiết là lời khai thị của bậc tôn sư, mà lắm lúc chỉ cần một tiếng suối reo, một cơn gió thoảng, một chiếc lá lìa cành, hay một nhánh cây khô gãy. Khi ấy hành giả như người ngủ mê chợt giật mình tỉnh giấc, lập tức vụt thoát khỏi cơn mộng dài. Hành giả đã tỏ ngộ và thân chứng chân lý, đã trực nhận ra tâm thái tự do sống động và bất biến nơi mình, mình là vũ trụ, vũ trụ là mình. Ngay phút dây tỉnh thức ấy, hành giả không còn chiến đấu nữa và đã yên nghỉ trọn vẹn trong tâm thái tự do và bình lặng tuyệt đối của mình. Một cơ duyên chuyển hóa toàn diện đã xảy ra, đưa tâm thái đồng nhất với vũ trụ.

Như vậy, trước cuộc khởi hành diệu vợi, hành giả đã có bản đồ và kim chỉ nam trong tay. Hành giả đã nhận ra lộ trình và nơi đến. Hành giả đã có kinh nghiệm là bấy lâu nay tự đào xới tâm hồn mình bằng nhiều phương tiện và nay đã quá mệt mỏi vì những phương tiện ấy. Hành giả đã trực nhận ra sự dại dột trong việc dửng dưng dùng phương tiện ấy để dày xéo tâm hồn mình. Bây giờ hành giả đã tỉnh thức sang ngang, mà không trụ lại trên bất cứ cây cầu nào, cho dù cây cầu ấy tân kỳ đẹp đẽ đến đâu. Giờ đây hành giả không còn gì để làm, để nói cho dù chỉ một lời thôi. Bản thể sống động bao hàm hiện hữu với tuệ giác thực tại tuyệt vời. Chân lý hiện hữu uyên nguyên nơi mỗi chúng ta như hơi thở với không gian, như bầu trời chứa đầy trăng sao huyền nhiệm. Hành giả đã thân chứng chân lý bằng tâm thanh tịnh bản nhiên, mà không qua trung gian của dòng thức phân biệt nào, nên không còn bị ảo giác và kiến thức đánh lừa nữa.



THIỀN
ZEN

Tỳ Kheo Thích Minh Điền Soạn
Thánh Tri dịch từ Việt sang Anh

Zen is not a religion, a doctrine or an intellectual point of view. Zen is also not a philosophical foundation with the systems of logical reasoning characterized by the subjectivity of the brain; nor a branch of science with structural programs and complicated equipments.

Zen is just a word use temporarily to show a state of mind that is permanent, constant, and transcending through time and space – Empty. The nature of Zen is beyond all pairs of contradictory and conflicting categories that belong to the subjective rationalism of our reasoning mind. We can achieve this state by experiencing spiritually with our own True Mind, and not through logical reasoning of the brain. This is the work of a Buddhist practical experience and not the logical reasoning of philosophy.  The term Zen itself is also just a completely empty name; it doesn’t relate to the quiescent, tranquil, and calm state of mind, an absolute freedom from the heart and mind. This state of mind is formless and nameless; Therefore, from its very nature, it is completely absent from any form and appearance such as name, word, and thought or mental cognition of the environment. It is absolutely equal to all things.

Therefore, we have to listen once again to the very inner most of our mind like it presently is; forget all the self words and self sounds of our flowing consciousness; and forget all the curiosities and inquiries of the misleading mind. 

Just like a finger pointing to the moon, all the teachings from sutras can only be temporarily used to describe the unchangeable truth of our own True Mind. Therefore, let’s forget them (all the teachings from sutras) after we have completely experienced the reality.

Do not ever let sutras and dharma teachings mislead us with their beautiful and eloquent writing styles, or become a place to imprison our absolute freedom and complete tranquility state of mind.

Practice Zen Meditation requires us to have a high and constant intuitive mind, just like a cat ambushing a mouse, it never let go of its focus until it catches its prey. And once we become enlightened or experiencing the awakening state of mind with a complete tranquility and transcending time and space – or empty, then the awakening itself will shine and guide us in all activities of our lives. Because of this awakening that we intuitively realizing that the tranquil state of mind and this absolute peace is Nirvana, and is also Zen. Therefore, Zen has no beginning and ending.

On the contrary, when we haven’t achieved the enlightenment, haven’t recognized the true nature of quiescence and tranquility right within us, then it means that we are not really practicing Zen Meditation, not knowing what Zen really is and still standing outside the door of Zen. No matter how clever and smart all our behaviors and actions are, they are just merely a careful consideration and calculation of our consciousness (mind); and hence, cannot avoid the clumsy and foolish mistakes leading to the conflicts. Once we have awakened and achieved the perfect freedom and absolute peace of our True Mind (Buddha-nature), then our lives will become more and abundantly meaningful and all our actions are always being shined and lighted upon. A freshly new view about the humanity and universe is opened; seeing life is no longer a sea of sufferings but a miraculous, lively, and sparkling picture, and a wonderful symphony. We will not be looking at life with desolate eyes, but with the equal, fully, and true-loving eyes.  

Whenever door of Zen is widely opened, the Master will step back. At this time, the practitioner himself will be walking alone on the path to liberation with no one intervenes him anymore. However, there are still battles, but even if he has to fight, he would still be clearly lighted by his inner mindful consciousness; and would never be lost because he have once experienced the awakening state of the natural peace and tranquility of his own True Mind (Buddha-Nature).

Once inside the door of Zen, we will become a new person with new point of view, which means living equally and harmoniously with the Absolute Truth. The enlightenment is not necessarily triggered by the teaching of a Dharma Master, but can sometime simply be the singing sound of flowing water in the creek, a light breeze, a leaf falling off from its branch, or a cracking sound of a dry tree’s branch. At that time, a practitioner is like a man in deep sleep suddenly awake, and immediately escapes from his long and continuous dream. The practitioner has become enlightened and experienced the Absolute Truth. He has recognized his free, lively, and permanent state of mind within him, that is his True Self is the Universe, the Universe is his True Self. At that very awakening moment, the practitioner no longer fights in battles and has already rested peacefully and completely within his own absolute tranquility and freedom state of mind. A favorable opportunity for a total transformation has happened, allowing the state of mind to unify fully with the universe.

Thus, before the starting of a long journey, the practitioner already has a map and a compass in his hands. The practitioner already recognized the path and the destination. The practitioner already has experienced the digging and beating of his own mind with many expedient means and is now too tired because of those means. The practitioner already intuitively recognized the foolishness in the indifference using those expedient means to harm his heart and mind. Right now, the practitioner has awakened to cross the river without staying attach to any bridge, despite how new, modern and beautiful that bridge really is. Now, the practitioner has nothing else to do and to say even just a word. The lively Absolute Nature encompasses all existents with a magnificent and realistic wisdom. The Truth (Reality) is manifesting and existing in each of us like the breath with space, like the sky holding plenty of marvelous stars and moon. The practitioner has self-experienced the Truth with his original and peaceful mind and not through the intermediary of any constant, flowing, and discriminate mind (misleading mind); hence, no longer misled by any delusions and worldly knowledge. 

Tri Kiến Phi Kiến



Tri Kiến Phi Kiến
The Knowledge beyond Worldly Knowledge

Tỳ Kheo Thích Minh Điền Soạn
Thánh Tri dịch từ Việt sang Anh

Phải chăng trường đời là nơi tranh danh đoạt lợi, hay chính là do mầm tham ái ở tại lòng mình mới là động cơ sinh ra mọi sự?

Chính cái tình thức của ta bị chia chẻ manh mún bởi sự lộng hành vô độ của dục ái, đã đẩy đưa ta lang thang từ vạn kiếp luân hồi với bao khổ lụy bi ai. Ta cứ mãi than thân trách phận, hoặc ngậm buồn nuốt hận rồi đổ lỗi cho Đấng tối cao tạo ra kiếp người cùng khổ, hoặc phó thác cho số mệnh trời định bất công, hoặc trách cứ xã hội phân chia giai cấp một cách tàn nhẫn!

Chính lưới tà kiến mà ta và người đã dựng xây từ vạn kỷ, tạo nên những sợi dây oan nghiệt trói chặt ta và đồng loại vào chốn đau thương.

Ta dựng lên Tôn giáo này, Triết thuyết nọ, Chủ nghĩa kia để rồi dẫn đến luận tranh, bạo hành, tương tàn tương sát lẫn nhau.

Giá như có một Đấng tối cao anh minh, thì sao Ngài lại ngớ ngẩn tạo nên bao nổi thống khổ cho thế gian nầy?

Nếu có một triết thuyết tuyệt hảo thì sao không làm kim chỉ nam thực dụng cho loài người thoát vòng khổ lụy bi ai?

Phải chăng những mớ luận thuyết ấy chỉ là sản phẩm giả lập của tâm thức cá nhân, hay tâm thức cộng động của một nhóm người, một sắc tộc, một quốc gia, một niềm tin tôn giáo hay một hệ thống chủ nghĩa chính trị?

Và nếu tâm thức ấy mang tính nhân bản, thì ít ra cũng đem lại sự bình ổn, sự hiểu biết và thương yêu chân thật nhằm hạnh phúc hóa cuộc sống nhân sanh mới phải?

Ai lại nhẫn tâm đè đầu cỡi cổ, đặt ách thống trị, hoặc sát phạt họ vì họ không chịu mang cùng một nhãn hiệu với mình?

Và nếu thế, thì các tôn giáo, các chủ thuyết, chủ nghĩa ấy có giá trị gì trong cuộc sống thực hữu của nhân sinh?

Trong khi tính nhân bản thì không cần danh xưng, chẳng có nhãn hiệu gì cả, mà chỉ cần “Thương người như thể thương thân” là đủ.

Nếu mình thương người vì họ cùng một tôn giáo, cùng một tín ngưỡng với mình, thì ra mình thương tôn giáo mình chứ đâu phải là thương người?


Nếu mình thương người vì họ cùng một màu da, cùng một sắc tộc với mình, thì ra mình thương sắc tộc của mình chứ đâu phải là thương người?

Nếu mình thương người vì họ cùng một chí hướng, cùng một chủ nghĩa với mình thì ra mình thương ý thức hệ của mình chứ đâu phải là thương người?

Chính vì những lẽ trên, nên người ta dễ đi đến cực đoan, tạo tiền đề ngăn cách giữa người và người, giữa tôn giáo nầy với tôn giáo nọ, giữa sắc tộc nầy với những sắc tộc khác, giữa quốc gia nầy với quốc gia nọ, giữa hệ thống chủ nghĩa chính trị nầy với những hệ thống chủ nghĩa chính trị khác.

Trong khi “Không có giai cấp trong dòng nước mắt cùng mặn, và trong dòng máu cùng đỏ như nhau”. Trân trọng thay lời nói ấy!

Cố chấp vào một quan điểm, vào một nhận thức, vào một luận thuyết mang tính chủ quan cục bộ của dòng thức, tạo nên những kiến thủ cực đoan ngăn đường bít lối ta đi đến chân lý.

Vì vậy, mở rộng tâm hồn đón gió muôn phương, nhằm đem lại tươi mát, bình ổn và an lạc cho mình và tha nhân là rất cần thiết. Song, mọi ý hướng đi tìm chân lý bởi thứ tình thức mang tính chủ quan, thì chẳng khác nào kẻ mù bị lạc vào rừng rậm, thật khó mà tìm ra lối trở về nhà.

Những mớ định kiến mà ta mang theo, nó tạo nên những uy lực đè nặng tâm hồn và phân hóa thực tại. Trong khi, chân tướng của vạn hữu là bản thế sống động bao hàm, luôn luôn vận hành một cách lung linh mầu nhiệm.

Nếu tự quán sát tâm theo khuôn mẫu của ký ức đã chết cứng tự bao giờ, thì vô tình ta đã quay lưng sấp mặt, bỏ qua thực tại với những uyên nguyên của nó. Trong khi, ta chỉ cần rỗng rang mọi sự, thì tâm ta được giải phóng, thông lưu và vô nhiểm. Ta thấy lại con người thật xưa nay của chính mình một cách chân xác như nó đang là, mà không bị một định kiến nào, một ý thức phân biệt nào can dự vào làm cho sai lạc.

Dùng mọi phương cách để theo dõi tâm, nhận dạng tâm, hướng dẫn tâm, điều phục tâm chỉ là cách chế ngự ý, an lập ý của Nhị thừa bởi người kiểm duyệt và kẻ bị kiểm duyệt. Trong khi, người kiểm duyệt và kẻ bị kiểm duyệt cũng chỉ là tâm.

Song, “Tâm không thể nắm bắt từ bên ngoài, từ bên trong hay ở giữa. Tâm vô hướng, vô niệm, không có chỗ sở y, không nơi chốn quy túc. Các đức Phật không thấy tâm trong thì quá khứ, trong hiện tại hoặc ở tương lai” (Kinh Phật).

Cái mà chư Phật không thấy thì làm sao mà quán niệm được. Nếu có quán niệm, thì chẳng qua là sự quán niệm về những vọng tưởng sinh diệt của các đối tượng tâm ý … v.v… Một lưỡi gươm không thể tự cắt nó. Một ngón tay không thể tự sợ mó nó. Tâm không thể quán tâm.

Trong khi ấy, mọi thứ tích tập từ vô lượng kiếp đến nay, nó chỉ là những sản phẩm vay mượn của tiền nhân; cái mà người xưa gọi là “Đồ ói mửa của Thánh nhân”. Hãy quên đi tất cả mọi tư niệm, mà chính nó đã tạo nên những tràng hí luận hỗn man, dẫn ta về rối rắm. Quên đi cả những gì đang nói và quên luôn cả cái quên, thì cánh của chân lý tức thời rộng mở. Những pháp môn được dựng lập bởi dòng thức chỉ tạo thêm vòng lẫn quẩn bởi chính công họa sư tâm ý và vẫn bị giam hãm trong cái rọ tư tưởng ngàn đời, chẳng khác nào kiến bò quanh miệng chén mãi tìm lối nhưng không thể thoát ra.

Đem tâm tìm tâm hay đem tâm quán tâm, thì chẳng khác nào muốn tránh cái bóng mà lại đứng giữa ánh nắng mặt trời. Chẳng biết đó chỉ là “Đầu mọc thêm đầu, tuyết rắc thêm sương” mà thôi.

Liễu ngộ chân lý không hạn cuộc bởi ngôn ngữ với mớ kiến thức vay mượn từ quá khứ, rồi đặt để cho hiện tại, hay dự phóng về tương lai.

Cái thấy biết chân thật nó siêu vượt khỏi tầm đối đãi của Nhị Nguyên. Hành vô hành là lộ trình không tên gọi. Khi rễ vọng tâm không đất nương tựa thì vòng luân hồi vào chốn vô sinh. Khi mặt trời lên thì đêm đen lui bóng. Đừng cho chi cũng chẳng nhận gì. Thử tìm xem là gì?



Tri Kiến Phi Kiến
The Knowledge beyond Worldly Knowledge

Tỳ Kheo Thích Minh Điền Soạn
Thánh Tri dịch từ Việt sang Anh

Is it true that life school is a place of competition of worldly fame and benefit or is it actually the root of greedy desire within our heart is the main motive that generate all life troubles?

It is our misleading mind (deluded consciousness) that being divided into many tiny pieces due to the over usurpation of love desire (love inspired by desire through the five senses). It has forced us drifting purposelessly from eons of life cycles of birth and death with countless sorrows and sufferings. We constantly keep blaming ourselves and our destinies, or silently and painfully swallowing our own sufferings then blaming the Creator for creating humans and their suffering lives, or desperately leave their suffering lives to God’s will hands, or blaming the society for creating and dividing the unjust social classes cruelly!

It is the net of wrong views that we and others have built from eons, which created the strings of karmic actions that bind us and our fellow beings into the suffering world.

We create this Religion, that Philosophy, and other Doctrines that lead us into endless argument, violence, and destroy and killing each other.

Suppose that there is a Supreme and Clear-Sighted Being (God), then why did He stupefyingly create all such sorrows and sufferings in this world?

If there is a perfect philosophical doctrine, then why would it not be used as a pragmatic magnetic needle that guides human beings to be free from all their miseries and sufferings?

Is it true that those philosophical doctrines are just the falsely established products of the individual mental perception (intuitive cognition, misleading mind, deluded consciousness), or the mental perception of a community of a group of people, a race, a country, a religious belief, or a system of political doctrine?

And if that mental perception carries a humanistic view, then at least it would truly bring the genuine peace, understanding, and compassion to transform human life and existence happily?

Who can be heartless and cruel to suppress, dominate, punish, and kill someone who does not share or carry the same label as us?

And if so, then how could any of the religions, philosophies, and doctrines have any value at all in the real existence of humankind?

Meanwhile, the nature of humanity does not need any appellation or any label but simply just “love others as yourself” is sufficient.

If we love others because they have the same religion and the same spiritual faith with us, then isn’t it true that we simply just love our religion and not the people?

If we love others because they have the same skin color and the same race with us, then isn’t it true that we simply just love our race and not the people?

If we love others because they have the same view or sense of purpose and the same doctrine with us, then isn’t it true that we simply just love our ideology and not the people?

Because of the reasons above, people easily march to the extreme, create separate premises between human and human, between this religion and that religion, this race and that race, this country and that country, and this political system and that political system.

Meanwhile, “There are no social classes in the same tears having equally salty taste and in the same blood that equally red”. What a great and admirable saying that is!

Stubbornly attach to a common view, a perception, and a doctrine that carries limited and subjective understanding of the deluded consciousness would create an extreme conservative view that hinders and blocks our path to the truth.

Therefore, it is essential to open our heart and mind to welcome the winds from all directions, that bringing freshness, peace and happiness to ourselves and others. However, all intentional tendencies from the deluded consciousness to find the truth with subjectivity are just like a blind person who is lost in the thick jungle; thus, it is really difficult to find a way home.

All pre-conceived perceptions that we have carried with us can only create heavy power pressuring our heart and mind, and divide the reality. Meanwhile, the true nature of all existences is the living and encompassing essence that constantly performing magnificently and miraculously. 

If self-contemplating (through meditation) our mind according to the criteria of our long-time stone-dead memories, then unintentionally we have turned to our backs and lied upside down, misses the reality with its deep and original natures. Meanwhile, we can just simply empty everything from our mind then we can be liberated, water-clear, and purified. Only then, we can see our own true selves or nature truthfully and exactly as it is without being distorted by any pre-conceived conception, any discriminate mind (consciousness) that implicates to make it diverge wrongly.

Using every ways and means to observe, recognize, guide, and control the mind is the Two Vehicles (śrāvaka and pratyekabuddha) or Theravada’s way to subdue and settle the mind down temporarily due to the observer and the ones being observed.  Meanwhile, the observer and the ones being observed are both simply just the mind itself.

However, “The Mind cannot be grasped from the outside, from the inside or from the middle. The Mind itself has to form, no perception, no dependence, and no residence. All Buddhas do not see the Mind in the past, in the present or in the future” (Buddha’s Sutra).

How could we contemplate the thing that Buddhas cannot even visualize? If we can contemplate, then that is just the contemplation about the delusions, mental objects, and etc… that come and go from our misleading mind. A sword cannot cut itself. A finger cannot touch itself. Mind cannot contemplate or visualize itself.

Meanwhile, all the things that we have been accumulated from eons of lives are just the products being borrowed from the people before us or in the past; which the people in the past called “The vomited stuffs of the Saints”. Let’s forget all the intuitive and self perceptions, which themselves have created a series of misty and useless arguments taking us into the complicated and confusing entanglement.  Let’s also forget all of what being said and even forget the forget itself. Only then, the door to the truth can immediately be opened widely and openly. All the Dharma Teachings formed by the misleading mind just creates more circles of wandering thoughts by human mental architect; that will always be imprisoned in the ever existing trap of thoughts, just like an ant crawling on the circling mouth of a bowl looking for a way out but couldn’t.

Using the mind to find the mind or use the mind to contemplate the mind is no different than trying to avoid one’s shadow while standing under the shining sun. One doesn’t understand that it is just “A head grows more heads on top, snow receives more frosty snow.”

Enlightening the truth is not limited by the words and language of knowledge borrowed from the past, applied to the present and planned for the future.

The truth and enlightened knowledge (or wisdom) is way beyond the worldly knowledge of duality (of two sides). Doing without doing is a path without name. When the roots of misleading mind (deluded consciousness) has nowhere to attach to, then the cycle of Samsara will come into the No-Birth. When the sun rises, then the dark recesses. What is it when we give nothing and receive nothing? What IS IT?